SWOT trong doanh nghiệp
Phân tích SWOT là một trong 5 bước hình thành chiến
lược kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm: xác lập tôn chỉ của doanh
nghiệp, phân tích SWOT, xác định mục tiêu chiến lược, hình thành các
mục tiêu và kế hoạch chiến lược, xác định cơ chế kiểm soát chiến lược.
Nó không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong việc hình thành
chiến lược kinh doanh nội địa mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hình
thành chiến lược kinh doanh quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của
doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp muốn phát triển, từng bước tạo lập
uy tín, thương hiệu cho mình một cách chắc chắn và bền vững thì phân
tích SWOT là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chiến
lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, phân tích SWOT là phân tích các yếu tố môi
trường bên ngoài mà doanh nghiệp phải đối mặt (các cơ hội và nguy cơ)
cũng như các yếu tố thuộc môi trường nội bộ doanh nghiệp (các mặt mạnh
và mặt yếu). Đây là một việc làm khó đòi hỏi nhiều thời gian, công sức,
chi phí, khả năng thu nhập, phân tích và xử lý thông tin sao cho hiệu
quả nhất.
Doanh nghiệp xác định các cơ hội và nguy cơ thông
qua phân tích dữ liệu về thay đổi trong các môi trường: kinh tế, tài
chính, chính trị, pháp lý, xã hội và cạnh tranh ở các thị trường nơi
doanh nghiệp đang hoạt động hoặc dự định thâm nhập. Các cơ hội có thể
bao gồm tiềm năng phát triển thị trường, khoảng trống thị trường, gần
nguồn nguyên liệu hay nguồn nhân công rẻ và có tay nghề phù hợp. Các
nguy cơ đối với doanh nghiệp có thể là thị trường bị thu hẹp, cạnh
tranh ngày càng khốc liệt, những thay đổi về chính sách có thể xảy ra,
bất ổn vê chính trị ở các thị trường chủ chốt hay sự phát triển công
nghệ mới làm cho các phương tiện và dây chuyền sản xuất của doanh
nghiệp có nguy cơ trở nên lạc hậu.
Với việc phân tích môi trường nội bộ của doanh
nghiệp, các mặt mạnh về tổ chức doanh nghiệp có tthể là các kỹ năng,
nguồn lực và những lợi thế mà doanh nghiệp có được trước các đối thủ
cạnh tranh (năng lực chủ chốt của doanh nghiệp) như có nhiều nhà quản
trị tài năng, có công nghệ vượt trội, thương hiệu nổi tiếng, có sẵn
tiền mặt, doanh nghiệp có hình ảnh tốt trong mắt công chúng hay chiếm
thị phần lớn trong các thị thường chủ chốt. Những mặt yếu của doanh
nghiệp thể hiện ở những thiểu sót hoặc nhược điểm và kỹ năng, nguồn lực
hay các yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đó có
thể là mạng lưới phân phối kém hiệu quả, quan hệ lao động không tốt,
thiếu các nhà quản trị có kinh nghiệm quốc tế hay sản phẩm lạc hậu so
với các đối thủ cạnh tranh...
Kết quả của quá trình phân tích SWOT phải đảm bảo
được tính cụ thể, chính xác, thực tế và khả thi vì doanh nghiệp sẽ sử
dụng kết quả đó để thực hiện những bước tiếp theo như: hình thành chiến
lược, mục tiêu chiến lược chiến thuật và cơ chế kiểm soát chiến lược cụ
thể. Chiến lược hiệu quả là những chiến lược tận dụng được các co hội
bên ngoài và sức mạnh bên trong cũng như vô hiệu hóa được những nguy cơ
bên ngoài và hạn chế hoặc vượt qua được những yếu kém của bản thân
doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược (là những mục tiêu chính mà doanh
nghiệp muốn theo đuổi thông qua việc thực hiện một loạt các hành động
cụ thể) phải đo lường được, mang tính khả thi và có thời hạn thực hiện.
Các chiến thuật thường được thiết lập theo hướng tập trung cụ thể hóa
chi tiết việc thực hiện các kế hoạch chi tiết như thế nào. Cơ chế kiểm
soát chiến lược là cơ chế quản lý và tổ chức chiến lược mà doanh nghiệp
sử dụng để kiểm soát bất cứ bước nào trong 5 bước hình thành chiến lược
nhằm đảm bảo quá trình thực hiện đi theo đúng định hướng mục tiêu chiến
lược.
Những công ty áp dụng phân tích SWOT thành công
Chẳng
hạm cho tới năm 1992, Walt Disney Company luôn thành công ở những công
viên chủ đề Disneyland ở Anaheim, Calífornia (1955), ở Florida (1970),
và ở Tokyo (1983). Năm 1992, Disney lại tiếp tục thành công tại Paris
nhà những kết quả chính xác thực tế và khả thi của quá trình phân tích
SWOT, cụ thể, S: Sự nổi tiếng của các nhân vật phim hoạt hình, thương
hiệu Walt Disney nổi tiếng, tiềm lực tài chính vững mạnh, W: sự hiểu
biết về văn hóa, sở thích của người Pháp chưa đầy đủ, O: Vị trí địa lý
của Phi thuận lợi (trung tâm Châu Âu), Chính phủ Pháp có những biện
pháp khuyến khích và hỗ trợ về giao thông, về giá đất, về đóng góp cổ
phần... T: Sự cạnh tranh của các công viên chủ đề khác ở Paris...
Một ví dụ khác gần gũi hơn là vào thời kỳ 1990, khi
khối Đông Âu sụp đổ Công ty Công nghiệp cao su miền Nam (Casumina) mất
một thị trường quan trọng với 15 triệu vỏ xe/năm trong lúc đang gánh
lên vai món nợ của những năm trước, Công ty chỉ còn sản xuất khoảng 20%
công suất.
Vào thời kỳ đó, Công ty đã kịp thời có những thay
đổi đúng đắn trong chiến lược kinh doanh quốc tế đó là ban đầu thì tiếp
cận công nghệ cao với chi phí thấp khi ký hợp đồng liên doanh và chế
biến cho các đối tác của Nhật, khai thác sự trợ giúp kỹ thuật từ đối
tác sau đó áp dụng chiến lược tạo sự khác biệt cho sản phẩm nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm nhờ vào kết quả của việc phân tích SWOT cho
điều kiện môi trường kinh doanh của Casumina, cụ thể: S: Công ty có đội
ngũ lãnh đạo có năng lực, đội ngũ công nhân gắn bó với Công ty, W: Công
ty chưa có kinh nghiệm về sử dụng kỹ thuật cao để sản xuất gánh nặng từ
món nợ lớn, thiết bị công nghệ lạc hậu (tính đến 1990 là đã 15 năm sử
dụng), O: Công nghệ sản xuất vỏ xe 2 bánh đã đến tới hạn, nhu cầu thị
trường nội địa về xuất vỏ xe 2 bánh cao, lợi thế về chi phí nhân công
rẻ và môi trường sản xuất thuận lợi, T: Mất thị trường quan trọng khi
Liên xô và Đông Âu sụp đổ nguy cơ đối đầu với các đại gia trên thế giới
về vỏ xe 2 bánh ...